Tin Nóng

Post Top Ad

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

Báo Mỹ nói:Quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam - Đức Tiến thêm một bước nữa

   Các bạn thân mến ! Xoay quanh chủ đề thế giới nói về Việt Nam, trong bài viết này chúng tôi xin gửi tới đọc giả bài viết từ trang The Diplomat của Mỹ nói về Việt Nam . Trong bài viết này tác giả đã đưa ra những nhận định về mối quan hệ đang ngày càng đi lên giữa Berlin và Hà Nội.

Sau đây là phần dịch lại , xin mời các bạn cùng chú ý theo dõi:



Sự đồng thuận về lợi ích ngày càng tăng đã thúc đẩy hai quốc gia mở rộng quan hệ đối tác chiến lược sang lĩnh vực hợp tác quốc phòng và an ninh.

Ngày 6/1, khinh hạm Bayern của Đức đã cập cảng TP.HCM để bắt đầu chuyến thăm Việt Nam kéo dài 4 ngày. Đây là lần đầu tiên tàu chiến Đức ghé cảng quốc gia Đông Nam Á kể từ khi hai nướQuan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước thông thường, nhưng không nhất thiết, được xác định theo bốn cấp độ tiến bộ, và thường là “quan hệ đối tác chiến lược” xảy ra sau khi thiết lập “quan hệ đối tác toàn diện” bao gồm hợp tác trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, quan hệ đối tác chiến lược Việt-Đức được thiết lập mà trước hết không triển khai quan hệ toàn diện.

Việc không có hợp tác quốc phòng và an ninh phản ánh các ưu tiên chiến lược của hai nước vào thời điểm quan hệ đối tác chiến lược của họ được thiết lập. Nhưng nó cũng tương ứng với tình hình ở Biển Đông và trong các vấn đề quốc tế ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương một thập kỷ trước. Sự “trỗi dậy” của Trung Quốc trong giai đoạn can thiệp gắn liền với các hành động gây hấn ở Biển Đông, tranh chấp chủ quyền biển với Việt Nam, sự bành trướng quân sự, sức mạnh chính trị toàn cầu và tham vọng ngày càng rõ ràng nhằm tạo ra một trật tự thế giới mới theo các quy tắc riêng của họ. Vai trò của Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường trong khuôn khổ “Giấc mơ Trung Hoa” và chiến dịch “trẻ hóa quốc gia” của Chủ tịch Tập Cận Bình đã trở thành động lực đặc biệt để cả Việt Nam và Đức xem xét lại các chính sách quốc phòng và an ninh của họ đối với khu vực.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam gần đây đã chuyển từ nguyên tắc ba sang bốn nguyên tắc “Không”: không tham gia liên minh quân sự, không đứng về phía nước này với nước khác, không cho phép nước khác lập căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để thực hiện quân sự. các hoạt động chống lại các quốc gia khác và “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.” Tuy nhiên, như tôi đã lập luận trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Đài France International, chính sách này không đặt ra giới hạn nào đối với hợp tác của Việt Nam với các nước khác, đặc biệt là các nước mà Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện, nhằm nâng cao năng lực quốc phòng. Điều chỉnh này trong chính sách quốc phòng phản ánh phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc tiếp tục xâm phạm vùng biển của mình và các hành động gây hấn ở những nơi khác trên Biển Đông.

Trong khi đó, các hướng dẫn chính sách của Đức đối với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương công nhận các tuyến vận tải biển mở qua Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và Biển Đông là yếu tố quan trọng đối với hoạt động ngoại thương của thế giới và nền kinh tế của cả Liên minh châu Âu (EU) và Đức. Mặc dù Đức không phải là một quốc gia trong khu vực, nhưng Đức có vai trò trong việc EU tham gia vào các động lực tăng trưởng của Châu Á và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do đó, nó tự coi mình là một tác nhân và đối tác định hình trong khu vực, tìm cách duy trì các chuẩn mực toàn cầu và cấu trúc khu vực.

Vào tháng 9 năm 2020, Đức, cùng với Pháp và Vương quốc Anh, đã đệ trình một Công hàm chung lên Liên hợp quốc để trình bày quan điểm của họ về luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), liên quan đến các tuyên bố chủ quyền biển trong Biển Đông. Điều này bác bỏ việc thực hiện các quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các vùng biển ở Biển Đông và chỉ ra sự tán thành của ba nước đối với phán quyết trọng tài trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc vào năm 2016.

Theo thông cáo báo chí từ Đại sứ quán Đức tại Hà Nội, nhiệm vụ của tàu khu trục nhỏ Bayern là đóng góp một cách hữu hình vào việc bảo vệ và gìn giữ trật tự dựa trên luật lệ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Chuyến đi qua Biển Đông nhấn mạnh tầm quan trọng của UNCLOS, quy định về quyền tự do hàng hải và hàng không trong các vùng biển quốc tế, cũng như quyền đi lại vô tội vạ qua các vùng nước ven biển. Đức luôn tán thành quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình và thực hiện một trật tự dựa trên luật lệ quốc tế ở Biển Đông.

Sự đồng thuận về lợi ích này đã tạo ra động lực rõ ràng để Việt Nam và Đức mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, bao gồm hợp tác quốc phòng và an ninh theo hướng thực chất hơn, mặc dù tiến độ trong lĩnh vực này còn chậm.

Năm 2003, Việt Nam cử Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Berlin, trong khi người đồng cấp Đức thường trú tại Bangkok. Năm sau, trong chuyến thăm đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam tới Đức, một biên bản ghi nhớ đã được ký kết giữa hai Bộ Quốc phòng, mở đường cho Việt Nam cử các quan chức quân sự sang đào tạo tại Đức. Kể từ đó, đội ngũ sĩ quan quân đội Việt Nam đã tham gia các khóa đào tạo hàng năm tại các căn cứ quân sự của Đức. Từ năm 2011, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt-Đức đã được mở rộng sang lĩnh vực quân y, gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và chứng kiến ​​nhiều hơn các chuyến thăm của các quan chức quân sự cấp cao. Việt Nam đã cử hai thứ trưởng Bộ Quốc phòng thăm riêng biệt tới Berlin vào các năm 2012 và 2019. Năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng Đức thăm Việt Nam. Đặc biệt lưu ý, vào năm 2019, Đức bổ nhiệm tùy viên quốc phòng thường trú đầu tiên tại Hà Nội, điều này cho thấy phạm vi hợp tác quốc phòng sâu rộng hơn nữa trong tương lai.

Chuyến thăm của Bayern đến Thành phố Hồ Chí Minh vào những ngày đầu năm 2022 là một bước đi cụ thể báo hiệu mối quan hệ hợp tác quốc phòng chặt chẽ hơn nữa giữa Việt Nam và Đức, đặc biệt là trong lĩnh vực hải quân. Tăng cường hơn nữa hợp tác quốc phòng sẽ là bước tiếp theo trong việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược hiện tại lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian 3 năm, khi hai nước sẽ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, với thực tế là Đức và Việt Nam đều là đối tác thương mại lớn nhất của nhau trong EU và ASEAN.Phi, Pakistan, Úc, Guam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Sri Lanka và Ấn Độ.

Một thông cáo báo chí do Đại sứ quán Đức tại Hà Nội công bố cho biết việc triển khai Bayern “nhấn mạnh thành phần an ninh của Hướng dẫn Ấn Độ - Thái Bình Dương ”, được chính phủ Đức thông qua vào tháng 9 năm 2020 sau các bước tương tự của các quốc gia châu Âu khác. Thông cáo báo chí dẫn lời Đại sứ Đức cho biết chuyến thăm của tàu khu trục là biểu hiện của tình hữu nghị giữa Việt Nam và Đức.

Năm 2011, Việt Nam và Đức đã nâng “mối quan hệ hữu nghị” lên quan hệ đối tác chiến lược trong một tuyên bố được ký bởi cựu Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và cựu Thủ tướng Đức Angela Merkel trong chuyến thăm của bà tới Hà Nội. Tuyên bố bao gồm một kế hoạch hành động chiến lược (SAP) nêu rõ năm lĩnh vực hợp tác được ưu tiên. Đó là hợp tác chiến lược về chính trị - ngoại giao, thương mại và đầu tư, hợp tác trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật, hợp tác bảo vệ và phát triển môi trường, và hợp tác xã hội, truyền thông, văn hóa, công nghệ, khoa học và giáo dục.

Để thúc đẩy hợp tác chiến lược, hai bên nhất trí thành lập Nhóm chỉ đạo chiến lược (SSG) do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam và Bộ trưởng Ngoại giao Đức làm đồng trưởng nhóm. Nhóm này dự kiến ​​sẽ tổ chức các cuộc họp định kỳ để đánh giá việc thực hiện SAP trong khuôn khổ các cuộc tham vấn chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở đây là hợp tác quốc phòng và an ninh không phải là ưu tiên mà được đề cập đến như một trọng tâm thứ yếu trong quan hệ đối tác chiến lược của hai nước.

Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước thông thường, nhưng không nhất thiết, được xác định theo bốn cấp độ tiến bộ, và thường là “quan hệ đối tác chiến lược” xảy ra sau khi thiết lập “quan hệ đối tác toàn diện” bao gồm hợp tác trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, quan hệ đối tác chiến lược Việt-Đức được thiết lập mà trước hết không triển khai quan hệ toàn diện.

Việc không có hợp tác quốc phòng và an ninh phản ánh các ưu tiên chiến lược của hai nước vào thời điểm quan hệ đối tác chiến lược của họ được thiết lập. Nhưng nó cũng tương ứng với tình hình ở Biển Đông và trong các vấn đề quốc tế ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương một thập kỷ trước. Sự “trỗi dậy” của Trung Quốc trong giai đoạn can thiệp gắn liền với các hành động gây hấn ở Biển Đông, tranh chấp chủ quyền biển với Việt Nam, sự bành trướng quân sự, sức mạnh chính trị toàn cầu và tham vọng ngày càng rõ ràng nhằm tạo ra một trật tự thế giới mới theo các quy tắc riêng của họ. Vai trò của Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường trong khuôn khổ “Giấc mơ Trung Hoa” và chiến dịch “trẻ hóa quốc gia” của Chủ tịch Tập Cận Bình đã trở thành động lực đặc biệt để cả Việt Nam và Đức xem xét lại các chính sách quốc phòng và an ninh của họ đối với khu vực.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam gần đây đã chuyển từ nguyên tắc ba sang bốn nguyên tắc “Không”: không tham gia liên minh quân sự, không đứng về phía nước này với nước khác, không cho phép nước khác lập căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để thực hiện quân sự. các hoạt động chống lại các quốc gia khác và “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.” Tuy nhiên, như tôi đã lập luận trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Đài France International, chính sách này không đặt ra giới hạn nào đối với hợp tác của Việt Nam với các nước khác, đặc biệt là các nước mà Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện, nhằm nâng cao năng lực quốc phòng. Điều chỉnh nàytrong chính sách quốc phòng phản ánh phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc tiếp tục xâm phạm vùng biển của mình và các hành động gây hấn ở những nơi khác trên Biển Đông.

Trong khi đó, các hướng dẫn chính sách của Đức đối với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương công nhận các tuyến vận tải biển mở qua Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và Biển Đông là yếu tố quan trọng đối với hoạt động ngoại thương của thế giới và nền kinh tế của cả Liên minh châu Âu (EU) và Đức. Mặc dù Đức không phải là một quốc gia trong khu vực, nhưng Đức có vai trò trong việc EU tham gia vào các động lực tăng trưởng của Châu Á và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do đó, nó tự coi mình là một tác nhân và đối tác định hình trong khu vực, tìm cách duy trì các chuẩn mực toàn cầu và cấu trúc khu vực.

Vào tháng 9 năm 2020, Đức, cùng với Pháp và Vương quốc Anh, đã đệ trình một Công hàm chung lên Liên hợp quốc để trình bày quan điểm của họ về luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), liên quan đến các tuyên bố chủ quyền biển trong Biển Đông. Điều này bác bỏ việc thực hiện các quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các vùng biển ở Biển Đông và chỉ ra sự tán thành của ba nước đối với phán quyết trọng tài trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc vào năm 2016.

Theo thông cáo báo chí từ Đại sứ quán Đức tại Hà Nội, nhiệm vụ của tàu khu trục nhỏ Bayern là đóng góp một cách hữu hình vào việc bảo vệ và gìn giữ trật tự dựa trên luật lệ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Chuyến đi qua Biển Đông nhấn mạnh tầm quan trọng của UNCLOS, quy định về quyền tự do hàng hải và hàng không trong các vùng biển quốc tế, cũng như quyền đi lại vô tội vạ qua các vùng nước ven biển. Đức luôn tán thành quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình và thực hiện một trật tự dựa trên luật lệ quốc tế ở Biển Đông.

Sự đồng thuận về lợi ích này đã tạo ra động lực rõ ràng để Việt Nam và Đức mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, bao gồm hợp tác quốc phòng và an ninh theo hướng thực chất hơn, mặc dù tiến độ trong lĩnh vực này còn chậm.

Năm 2003, Việt Nam cử Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Berlin, trong khi người đồng cấp Đức thường trú tại Bangkok. Năm sau, trong chuyến thăm đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam tới Đức, một biên bản ghi nhớ đã được ký kết giữa hai Bộ Quốc phòng, mở đường cho Việt Nam cử các quan chức quân sự sang đào tạo tại Đức. Kể từ đó, đội ngũ sĩ quan quân đội Việt Nam đã tham gia các khóa đào tạo hàng năm tại các căn cứ quân sự của Đức. Từ năm 2011, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt-Đức đã được mở rộng sang lĩnh vực quân y, gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và chứng kiến ​​nhiều hơn các chuyến thăm của các quan chức quân sự cấp cao. Việt Nam đã cử hai thứ trưởng Bộ Quốc phòng thăm riêng biệt tới Berlin vào các năm 2012 và 2019. Năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng Đức thăm Việt Nam. Đặc biệt lưu ý, vào năm 2019, Đức bổ nhiệm tùy viên quốc phòng thường trú đầu tiên tại Hà Nội, điều này cho thấy phạm vi hợp tác quốc phòng sâu rộng hơn nữa trong tương lai.

Báo Trung Quốc hỏi : Việt Nam ơi đã đến lúc đánh cược vận may quốc gia chưa.

Báo TQ nói: Việt Nam đã đánh bại chúng ta sau 62 năm, nhưng đây mới là điều đáng lo.

Chuyến thăm của Bayern đến Thành phố Hồ Chí Minh vào những ngày đầu năm 2022 là một bước đi cụ thể báo hiệu mối quan hệ hợp tác quốc phòng chặt chẽ hơn nữa giữa Việt Nam và Đức, đặc biệt là trong lĩnh vực hải quân. Tăng cường hơn nữa hợp tác quốc phòng sẽ là bước tiếp theo trong việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược hiện tại lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian 3 năm, khi hai nước sẽ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, với thực tế là Đức và Việt Nam đều là đối tác thương mại lớn nhất của nhau trong EU và ASEAN.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Top Ad